PHẢ KÝ HỌ ĐOÀN YÊN CỐNG
PHẢ KÝ HỌ ĐOÀN YÊN CỐNG
1. Sơ lược về dòng họ Đoàn
Theo gia phả dòng họ ghi chép, Cụ tổ khai sáng của Họ Đoàn Yên Cống là Cụ Đoàn Phúc Vạn, người về định cư tại vùng đất Yên Cống vào thế kỷ XVII. Khi ấy nơi đây còn hoang sơ, thưa thớt dân cư, cụ là một trong những người đầu tiên khai hoang lập ấp, mở mang điền thổ, đặt nền móng cho cộng đồng cư dân và cho dòng họ Đoàn thôn Yên Cống như ngày nay.
Cụ kết duyên cùng Cụ bà – Hiệu Từ Ái phu nhân, và từ đó gây dựng nên một dòng họ bền vững, hiếu học, đoàn kết. Ngày giỗ Tổ được định vào mồng 5 tháng 9 âm lịch, là dịp để con cháu khắp nơi quy tụ tưởng niệm công đức tiên tổ.
Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, dòng Họ Đoàn Yên Cống hiện đã truyền đến đời thứ 18, phân thành 3 chi và 5 ngành. Các thế hệ con cháu nối tiếp nhau, luôn giữ gìn đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, nỗ lực học tập, rèn luyện, nhiều người đã thành đạt, góp công trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, làm rạng danh truyền thống của dòng họ.
2. Cụ Đoàn Văn Dụng (Đoàn Đình Dụng) – Danh nhân của dòng họ
Trong lịch sử Họ Đoàn Yên Cống, Cụ Đoàn Văn Dụng, tên tự Đôn Hậu, là cháu đời thứ 6 của dòng họ, được ghi nhận là một vị quan lớn thời Hậu Lê, có nhiều công lao đối với đất nước.
Cụ sinh trong một gia đình nề nếp, cha là cụ Đoàn Văn Lưỡng, tự Phúc Hiền, mẹ hiệu Từ Nhu, có ba anh trai là Đoàn Văn Khương, Đoàn Văn Mỗi, Đoàn Văn Kiên và hai em gái là Đoàn Thị Tư và Đoàn Thị Kiền (tức Biền).
Sinh thời, cụ nổi tiếng thông minh, học giỏi, có chí lớn, trưởng thành trong bối cảnh đất nước nhiều biến động. Khi vận nước lâm nguy, cụ đã tòng quân nơi biên ải, thể hiện tài thao lược, dũng cảm và trung nghĩa. Cụ lập nhiều chiến công hiển hách và được triều đình trọng thưởng, phong tặng chức “Phấn Lực Tướng quân”, hàm Bá Hộ, Hạ trật.
Theo sắc phong còn lưu giữ, ngày 26 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), vua ban chiếu ghi rõ:
“Sắc ban cho Đoàn Văn Dụng, người xã Thạch Lồi, huyện Yên Khang, vì phụng sự tự vương lúc mới lên ngôi, góp công phò tá, giữ yên biên cương, đáng được thăng chức một bậc, gia ơn phong Đội Trưởng, hàm Bá Hộ, tráng sĩ ty Hiệu lệnh thuộc Phấn Lực Tướng quân.”
Cụ từng tham gia sự kiện “Nạn Kiêu binh” năm Nhâm Dần (1782), góp phần dẹp loạn, bảo vệ triều đình và ổn định đất nước. Công trạng của cụ được triều đình ghi nhận và lưu danh trong lịch sử.
3. Hậu duệ và đời sau
Cụ có hai người vợ:
- Chính thất, cụ bà Bùi Thị Đội, hiệu Từ Ân nhụ nhân, sinh hai con trai là Đoàn Đình Bản và Đoàn Đình Hoa (mất tích từ nhỏ), cùng hai con gái là Bùi Thị Nhân và một người mất khi còn bé. Mộ cụ bà hiện táng tại xứ Vườn Chính, thôn Yên Cống, cách nhà thờ khoảng 500m về phía Nam. Giỗ ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch. Con trưởng Đoàn Đình Bản, tự Thuận, có vợ là Bùi Thị Hiệu, tự Minh, hiện mộ phần đặt tại xứ Gồ Mây, cách nhà thờ 300m về phía Đông.
- Kế thất, cụ bà Bùi Từ Trinh, sinh một con trai là Đoàn Đình Bằng (chưa rõ lai lịch). Mộ cụ bà táng tại xứ Mã Láng, thôn Bùi, cách nhà thờ 800m về phía Tây Bắc, giỗ ngày 13 tháng 6 âm lịch.
Khi cụ Đoàn Văn Dụng qua đời, con cháu trong họ đã lập nhà thờ riêng để thờ phụng cụ. Tuy hiện không còn ghi rõ năm sinh, năm mất, nhưng hàng năm, ngày 30 tháng 11 âm lịch, con cháu họ Đoàn đều trang trọng tổ chức giỗ cụ tại quê nhà. Mộ phần cụ đặt tại xứ Lỗ Ngôi, thôn Yên Cống, cách nhà thờ khoảng 600m về phía Đông Bắc.
Đại diện các con cháu viếng mộ cụ Đoàn Văn Dụng
4. Công đức và tấm gương hậu thế
Cụ Đoàn Văn Dụng là người vừa có công với nước, vừa có đức với dân, là niềm tự hào lớn của dòng họ Đoàn Yên Cống. Cụ đã được triều đình phong tặng nhiều chức vị cao quý, ghi nhận công lao trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi quốc gia.
Với dòng họ, cụ là ngọn đuốc soi đường, là tấm gương sáng ngời về trí – dũng – nhân – nghĩa, để muôn đời con cháu noi theo. Cụ không chỉ góp phần xây dựng nên làng Yên Cống trù phú, cùng các dòng họ Nguyễn, Phạm, An tạo dựng nền tảng cho một vùng quê đoàn kết, giàu truyền thống, mà còn khơi dậy niềm tự hào, tinh thần hiếu học, trọng nghĩa của Họ Đoàn qua bao thế hệ.
5. Lời kết
Trải qua bao thăng trầm lịch sử, Họ Đoàn Yên Cống vẫn luôn giữ vững nếp nhà, phát triển bền vững, gắn bó trong tinh thần tương thân tương ái.
Phả ký này được biên soạn nhằm lưu truyền công đức của tiền nhân, để thế hệ mai sau hiểu, nhớ và tiếp bước — gìn giữ truyền thống “Tổ tiên công đức muôn đời thịnh – Con cháu thảo hiền vạn kiếp vinh”.
